Tin tức

TP Hồ Chí Minh đẩy mạnh quan trắc chất lượng không khí

Thứ Năm, 16/6/2022 09:12

Ô nhiễm không khí (ÔNKK) đang là vấn đề lớn ở TPHCM. ÔNKK nói chung và phơi nhiễm các vật chất siêu nhỏ nói riêng (nhất là bụi PM 2.5) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra các rủi ro về sức khỏe, bệnh tật về đường hô hấp, thậm chí dẫn tới nguy cơ tử vong sớm. Mỗi năm, TPHCM có hơn 1.000 ca tử vong do ÔNKK.

Nguồn phát thải bủa vây

PGS-TS Phùng Chí Sỹ, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, đánh giá, TPHCM đang chịu tác động của 4 nguồn gây ô nhiễm chính. Đó là hoạt động giao thông; khí thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; khí thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân (nấu nướng, đốt than, củi, đốt phế liệu tự phát của người dân...); và nguồn gây ô nhiễm đến từ việc đốt rơm, rạ ở các tỉnh Long An, Tây Ninh, Đồng Nai... Việc phải chịu quá nhiều nguồn thải khiến cho tình trạng ÔNKK ở TPHCM đã và đang trở nên phức tạp, ảnh hưởng nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân.

Đồng quan điểm này, PGS-TS Hồ Quốc Bằng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ô nhiễm không khí và Biến đổi khí hậu, Viện MT-TN, Đại học Quốc gia TPHCM, cũng cho biết, nguồn phát thải gây ÔNKK từ các phương tiện giao thông chiếm tỷ lệ rất lớn. Trong đó, chủ yếu là xe máy. TPHCM có hơn 7 triệu xe máy, và đây là nguồn phát thải chủ yếu của các chất ô nhiễm NO2, CO, SO2, CH4, nhất là bụi mịn PM2.5 thải ra từ phương tiện này chiếm gần 80%. Ngoài ra, các ngành sản xuất công nghiệp cũng là nguồn phát thải cao.

 

Hoạt động sản xuất phát thải nhiều khí gây ô nhiễm môi trường

Trao đổi về những tác động của ÔNKK đến sức khỏe con người, PGS-TS-BS Lê Thị Tuyết Lan, chuyên gia hô hấp thuộc Đại học Y Dược TPHCM, cho biết, ÔNKK gây ra rất nhiều bệnh tật. Chẳng hạn như hen suyễn, suy giảm mạn tính về chức năng hô hấp, ung thư phổi, các bệnh tim mạch... Điều đáng lo ngại nhất là nồng độ PM2.5 của TPHCM hàng năm đều rơi vào khoảng 23μg, cao gấp gần hơn 4 lần tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới.

Nghiên cứu của Bệnh viện Đại học Y Dược và Bệnh viện Tai Mũi Họng cho thấy, 30% bệnh nhân viêm mũi dị ứng bị hen phế quản đi kèm và 80% bệnh nhân hen bị viêm mũi dị ứng. Hàng năm, TPHCM có hơn 1.000 ca tử vong do ÔNKK. "Năm 2020, ở TPHCM, PM 2.5 gây tử vong cho 1.136 người, NO2 là 172 người và SO2 là 89 người. Năm 2021, PM 2.5 đóng góp 6,3% (35/557) ca tử vong do ung thư phổi; 6,5% (41/629) ca tử vong do ung thư hệ hô hấp”, PGS-TS-BS Lê Thị Tuyết Lan dẫn chứng.

Nâng cao năng lực cảnh báo

Nhiều ý kiến đánh giá, ÔNKK tại TPHCM đang gây hậu quả rất nặng nề. Để có thể phòng tránh tác động của ÔNKK, TPHCM cần đẩy mạnh đầu tư hệ thống quan trắc không khí tự động để cảnh báo cho người dân biết trước, từ đó có những biện pháp phòng tránh hiệu quả.

Chia sẻ về dự án ứng dụng theo dõi chất lượng không khí Healthy AIR đang được triển khai ở TPHCM (dự án hợp tác giữa Trung tâm Ứng dụng trí tuệ nhân tạo Ireland và Đại học quốc gia TPHCM), PGS-TS Hồ Quốc Bằng cho biết, ứng dụng này có thể đo được nhiều chất gây ÔNKK như PM 2.5, CO, NO2, SO2. Dựa trên số liệu đo liên tục từ 6 trạm quan trắc tại 6 đơn vị (quận Bình Thạnh, quận 10, quận 1, Tân Phú, huyện Bình Chánh và TP Thủ Đức), Healthy AIR đưa ra các khuyến cáo, cảnh báo về chất lượng không khí cho các nhóm đối tượng có các bệnh hen suyễn, viêm xoang, hô hấp...

Ngoài ra, dự án cũng sẽ phát triển các mô hình để dự đoán mức độ ÔNKK đối với sức khỏe cộng đồng bằng cách phân tích sự tương quan mức độ ÔNKK trong các khoảng thời gian ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Để có thể đo lường chất lượng không khí toàn TPHCM, cần phải có ít nhất 16 trạm quan trắc không khí tự động.

Song song với các giải pháp nâng cao năng lực dự báo, quan trắc chất lượng không khí, PGS-TS Phùng Chí Sỹ cũng đề xuất các giải pháp khuyến khích mọi người chuyển sang sử dụng xăng E5, hạn chế xe máy, tăng cường xe bus, phương tiện công cộng, phát triển xe điện, kiểm kê khí thải xe máy. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân không đốt than, củi, phế liệu trong các khu dân cư. Với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, cần đầu tư công nghệ sạch và áp dụng sản xuất sạch hơn. Đối với các nguồn gây ô nhiễm từ bên ngoài, cần đẩy mạnh đầu tư hệ thống quan trắc tự động để cảnh giới, giúp người dân biết trước và tìm cách phòng tránh.

Đề xuất giải pháp kiềm chế khí thải, PGS-TS Đoàn Thị Phương Diệp, Trường Đại học Kinh tế - Luật kiến nghị, cần triển khai áp dụng nhanh chóng các quy định kỹ thuật về khí thải cho việc sản xuất cũng như nhập khẩu các phương tiện giao thông cơ giới; có chính sách nâng cao chất lượng giao thông công cộng.

Trao đổi về những tác động từ đám cháy ở bãi phế liệu lốp xe trên địa bàn quận 12 (TPHCM) ngày 6-6 vừa qua, PGS-TS Phùng Chí Sỹ nhận định, thành phần làm lốp cao su bao gồm cao su tự nhiên, các chất độn, oxit kẽm... nên khi cháy sẽ phát sinh ra bụi, SO2, NO2, CO, CO2... Đây là những tác nhân gây ÔNKK. Nếu nồng độ các chất này cao và người dân mà tiếp xúc gần thì sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, nhất là đường hô hấp. Đặc biệt, trong lốp ô tô có một loại chất là than carbon, khi cháy sẽ thải ra một chất đen sì, mịn, nhỏ... Loại chất này rất độc nếu đi vào cơ thể và gây rất nhiều bệnh tật cho con người, trong đó có bệnh ung thư.

Theo sggp.org.vn

 

Giật mình’ tỷ lệ thu gom xử lý nước thải ở đô thị Việt Nam

22:01 - 13/06/2022   

Thông tin về tỷ lệ xử lý nước thải ở các đô thị Việt Nam chỉ đạt khoảng 15% được đưa ra tại họp báo thường kỳ Bộ Xây dựng chiều 13.6 khiến không ít người “giật mình”.

Theo bà Đặng Anh Thư, Phó cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng, việc đầu tư xử lý nước thải ở các địa phương còn rất nhiều hạn chế.
Cụ thể, đầu tư các hệ thống xử lý nước thải đòi hỏi vốn rất lớn. Trong khi đó, nguồn ngân sách hạn chế, còn việc huy động vốn từ xã hội hóa đầu tư xử lý nước thải rất khó khăn do vốn lớn, thu hồi chậm nên khó thu hút được.

 

Tại Hà Nội, sông Tô Lịch ô nhiễm nhiều năm qua, được biết đến là nơi chứa nước thải, rất ô nhiễm


Bà Thư thông tin thêm, số lượng đô thị tăng nhanh, tốc độ đô thị hoá cũng mạnh, với khoảng 870 đô thị trên cả nước hiện nay. Trong khi đó, xử lý nước thải đô thị đang chủ yếu tập trung ở một số đô thị lớn nhưng còn thiếu rất nhiều.
Bà Thư nêu ví dụ ở Hà Nội, theo quy hoạch có 31 nhà máy xử lý nước thải nhưng đến nay mới chỉ có 6 nhà máy, đáp ứng được khoảng 28% khối lượng nước thải cần xử lý. Còn tại TP.HCM, hiện mới có 3 nhà máy xử lý nước thải trên tổng số quy hoạch là 11 nhà máy. Tỷ lệ xử lý nước thải ở đô thị trong cả nước hiện chỉ mới đạt khoảng 15% là rất thấp. Về tỷ lệ thu gom nước thải, bà Thư cho biết, hiện đạt khoảng 65% tổng lượng nước thải tại các đô thị.

 

Bà Đặng Anh Thư, Phó cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng, thông tin về tỷ lệ xử lý nước thải đô thị tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Xây dựng chiều nay 13.6


Đại diện Cục Hạ tầng kỹ thuật cũng cho biết, việc đầu tư cho cấp nước sinh hoạt tăng rất nhanh, chênh lệch rất nhiều so với đầu tư cho xử lý nước thải.
Tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Quang Hùng lưu ý, cần phân biệt rõ nước thải từ các khu công nghiệp, nhà máy công nghiệp, khu đô thị mới thì việc thu gom, xử lý nước thải tương đối tốt vì các dự án đầu tư xây dựng sau này đều có yêu cầu trạm xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường.
Theo Thứ trưởng Hùng, tại các đô thị cũ, khu dân sinh hình thành rải rác trong các đô thị thì chưa thu gom, xử lý nước thải tốt do trước đây chưa có quy định.
Cũng theo Thứ trưởng Hùng, tỷ lệ xử lý nước thải nói chung tại các đô thị không cao. Tuy nhiên, để lắp đặt bổ sung các hệ thống thu gom, xử lý nước thải ở các đô thị cũ, khu dân sinh tản mạn sẽ tốn kém rất nhiều chi phí, thời gian. Trong tương lai, cần có những chính sách phù hợp để thúc đẩy thu gom, xử lý nước thải. Đây là vấn đề rất lớn, cần có thời gian. Tại các nước ASEAN, tỷ lệ xử lý nước thải ở các đô thị thường trên 50%.

Theo thanhnien.vn

 

Năm 2025, tái sử dụng, tái chế, xử lý 85% lượng chất thải nhựa phát sinh

10:08 - 09/06/2022  

Đó là một trong các nội dung trong Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam vừa được Phó thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái ký quyết định phê duyệt.

Theo đó, Đề án đặt ra mục tiêu là góp phần cụ thể hóa giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP ít nhất 15% vào năm 2030 so với năm 2014, hướng tới mục tiêu phát thải ròng về “0” vào năm 2050.

Cụ thể, mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ hỗ trợ xây dựng lối sống xanh, khuyến khích phân loại rác thải và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Đến năm 2025, tái sử dụng, tái chế, xử lý 85% lượng chất thải nhựa phát sinh; giảm thiểu 50% rác thải nhựa trên biển và đại dương so với giai đoạn trước đây; giảm dần mức sản xuất và sử dụng túi ni lông khó phân hủy và sản phẩm nhựa dùng một lần trong sinh hoạt. Tăng đáng kể năng lực tái chế rác thải hữu cơ ở đô thị và nông thôn. Nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân trong sản xuất, tiêu thụ, thải bỏ chất thải nhựa, túi ni lông khó phân hủy và sản phẩm nhựa dùng một lần trong sinh hoạt.

 

3 năm nữa, tỷ lệ tái sử dụng, tái chế, xử lý lượng chất thải nhựa phát sinh lên đến 85%

Đến năm 2030, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn thông qua các mô hình kinh tế tuần hoàn đạt 50%; 100% rác thải hữu cơ ở đô thị và 70% rác thải hữu cơ ở nông thôn được tái chế; không làm phát sinh việc chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt từ các mô hình kinh tế tuần hoàn ở đô thị; tối đa hóa tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom và xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định ở các khu đô thị.

Bên cạnh đó, đề án cũng nhấn mạnh mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng chống chịu của người dân với biến đổi khí hậu, đảm bảo bình đẳng về điều kiện, cơ hội phát huy năng lực, cải thiện năng suất lao động và thu nhập của người lao động.

Muốn vậy, đề án giúp tăng cường nhận thức, sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với mô hình kinh tế tuần hoàn, giúp "thúc đẩy" xanh hóa các ngành kinh tế. Đến năm 2025, các dự án kinh tế tuần hoàn bước đầu đi vào thực hiện và phát huy hiệu quả kinh tế, xã hội, công nghệ và môi trường; đóng góp vào phục hồi các tài nguyên tái tạo được, giảm tiêu hao năng lượng, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trên tổng cung cấp năng lượng sơ cấp, tỷ lệ che phủ rừng, tăng cường tỷ lệ tái chế rác thải, tăng cường tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm nông, lâm, thủy sản và công nghiệp xuất khẩu. Đến năm 2030, các dự án kinh tế tuần hoàn trở thành một động lực chủ yếu trong giảm tiêu hao năng lượng sơ cấp, có năng lực tự chủ phần lớn hoặc toàn bộ nhu cầu năng lượng dựa trên năng lượng tái tạo, và trong tăng cường tỷ lệ che phủ rừng.

Nhiệm vụ, giải pháp cụ thể khác của Đề án là chủ động trao đổi với các nhà tài trợ nước ngoài, các tổ chức quốc tế để tìm kiếm cơ hội tiếp cận tri thức, kỹ năng và nguồn lực phát triển kinh tế tuần hoàn thông qua các dự án thử nghiệm, các dự án về công nghệ, dịch vụ (công nghệ thông tin, môi trường...) thân thiện. Tăng cường đối thoại công - tư về phát triển kinh tế tuần hoàn, trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; tìm hiểu nhu cầu, vướng mắc của doanh nghiệp để có biện pháp tháo gỡ, hỗ trợ. Rà soát, hoàn thiện khung chính sách và pháp lý nhằm tạo điều kiện cho phát triển kinh tế tuần hoàn...

Theo thanhnien.vn

 

Nước thải đô thị được xử lý đạt 15%, nông thôn hầu như chưa xử lý

Thứ Hai, 23/5/2022 16:01

Báo cáo của Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường vừa được gửi đến Quốc hội cảnh báo ô nhiễm môi trường một số nơi có nguy cơ vượt ngưỡng chịu đựng của các hệ sinh thái, ảnh hưởng lên nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội, điều kiện sống và sức khỏe của nhân dân.

 

Chính phủ cho biết, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề, cụm công nghiệp phát sinh ngày càng lớn trong khi hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu.

Theo báo cáo, thông qua việc triển khai nhiều công cụ, biện pháp quản lý đồng bộ, công tác bảo vệ môi trường trong năm 2021 tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực. So với cùng kỳ năm 2020, nhiều chỉ tiêu môi trường có kết quả tích cực.
Mặc dù vậy, ô nhiễm môi trường ở một số nơi có nguy cơ vượt ngưỡng chịu đựng của các hệ sinh thái, ảnh hưởng lên nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội, điều kiện sống và sức khỏe của nhân dân.
“Các nguồn ô nhiễm môi trường gia tăng nhanh về số lượng, quy mô và mức độ tác động xấu lên môi trường, làm cho môi trường đất, nước, không khí nhiều nơi bị ô nhiễm”, bản báo cáo nhận định.
Đáng lưu ý, vẫn còn cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa được xử lý triệt để, các cơ sở công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nằm xen lẫn trong khu dân cư chậm được di dời. Các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc loại hình ô nhiễm cao chiếm tỷ lệ lớn hơn so với cơ sở thuộc loại hình ít ô nhiễm, thân thiện với môi trường.
Xuất hiện nguy cơ dịch chuyển, hình thành mới các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường từ đô thị về các khu vực nông thôn; nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thứ phát từ các dự án sản xuất điện năng lượng mặt trời, dự án thủy điện. Hoạt động kiểm toán chất thải mới chỉ bắt đầu. Ô nhiễm ở các làng nghề tồn tại lâu dài, chưa được giải quyết triệt để…
Ô nhiễm không khí vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là ô nhiễm bụi mịn tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người dân.
Đặc biệt, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề, cụm công nghiệp phát sinh ngày càng lớn trong khi hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu. Cả nước mới có 162/735 cụm công nghiệp (đạt tỷ lệ 22%) đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tổng lượng nước thải được thu gom, xử lý tại các đô thị rất thấp, chỉ đạt khoảng 15%; hầu hết các khu dân cư nông thôn chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến ô nhiễm môi trường còn diễn biến phức tạp. Yêu cầu đầu tư xử lý nước thải sinh hoạt đặt ra cấp bách, trong khi nguồn vốn còn hạn chế, các chính sách xã hội hóa chưa hiệu quả.
Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt 66%; hơn 80% các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh…

Theo sggp.org.vn

 
Trang 1 trong tổng số 385 trang